3 Nhà hàng Thái ở Bắc Giang, Bắc Ninh đưa vị chua cay xứ Chùa Vàng lên bàn ăn
Nhà hàng Thái tại Bắc Giang, Bắc Ninh mang đến một lựa chọn đầy hứng khởi cho những ngày muốn đổi vị bằng lẩu chua cay, đồ nướng nóng hổi ...
Tìm hiểu quy ước ca hát ở Kinh Bắc: đối giọng, đối lời, canh ca, hát hội và những hình thức nghi lễ được tài liệu nguồn mô tả.
Hát đối đáp ở Kinh Bắc có những quy ước về người hát, làn điệu, lời ca và cách tổ chức cuộc gặp. Bài viết trình bày lại các hình thức sinh hoạt được tài liệu nguồn mô tả, từ canh ca trong nhà đến hát vui, hát thi và nghi lễ làng. Đây là bối cảnh truyền thống, không mặc định mọi lễ hội hiện nay đều thực hiện cùng một thể lệ.
Trong cách hát truyền thống được nguồn giới thiệu, bên nữ và bên nam luân phiên đáp lại nhau, thường theo hình thức hát đôi. Đối giọng nghĩa là bên đáp dùng cùng làn điệu với bên hát trước. Đối lời yêu cầu lời ca mới, nhưng vẫn liên hệ với tình ý và hình tượng đã được đưa ra, tạo sự giao hòa giữa hai bên.
Việc đối đáp vì vậy cần cả vốn làn điệu lẫn khả năng sử dụng lời thơ. Tài liệu xem đối giọng và đối lời là những thành phần của một cuộc hát hoàn chỉnh. Người thực hành phải tích lũy bài bản, luyện cách hát và học hỏi qua những lần giao lưu, thay vì chỉ nhớ một vài bài quen thuộc.
Một số nơi gọi cuộc hát là canh ca. Theo nguồn, sinh hoạt này thường diễn ra vào mùa xuân hoặc mùa thu, khi có hội chùa, hội đình, giữa các nhóm nam nữ đến gặp bạn hát. Thời gian thường được mô tả từ khoảng 7–8 giờ tối đến 2–3 giờ sáng; có trường hợp kéo dài 2–3 ngày đêm trong hội nhiều ngày. Đây là cách tổ chức được tài liệu lịch sử ghi nhận.
Sau nghi thức giao tiếp giữa chủ và khách, cuộc hát bắt đầu bằng giọng cổ, còn gọi là giọng lề lối. Nguồn nhắc truyền thuyết về 36 giọng cổ và cho biết trước tháng 8/1945, chặng đầu thường sử dụng khoảng 5–6 giọng. Những tên được nêu gồm Hừ la, La rằng, Đương bạn (Bạn lan), Tình tang, Cây gạo và Cái ả.
Âm điệu ở chặng này được mô tả là chậm rãi, có tiếng đệm và những yêu cầu về vang, rền, nền, nẩy. Giọng La rằng có vai trò giúp hai bên hòa hợp cao độ, trường độ và cách ngân. Tài liệu kể rằng khi cuộc hát chưa ăn nhập, người nghe có kinh nghiệm có thể nhắc hát lại giọng này để điều chỉnh.
Trong canh ca theo lệ cũ, chặng giọng cổ là phần bắt buộc và được duy trì nghiêm. Bài nguồn xem việc thực hiện đầy đủ chặng mở đầu là một dấu hiệu của sự hiểu biết quy ước. Cách đánh giá đó thuộc môi trường thực hành truyền thống được tài liệu mô tả.
Sau giọng cổ, các nhóm chuyển sang giọng vặt. Nguồn cho biết phần lớn bài bản còn sưu tập được thuộc hệ thống này, với nhiều ví dụ về sự kết hợp giữa lời thơ và âm nhạc. Thứ tự bài không cố định như chặng đầu, dù các canh hát có những tập quán tương đối gần nhau.
Càng về khuya, nội dung được nguồn mô tả càng thiên về nỗi nhớ, tình bạn, sự gắn bó và những suy tư đời sống. Giọng ca, cách luyến láy và việc đáp lại tình ý giúp cuộc hát phát triển theo cảm xúc. Đó là cách tài liệu lý giải sức cuốn hút của chặng giữa, không phải một công thức bắt buộc cho mọi buổi biểu diễn.
Nguồn đặt bữa mời tiệc vào khoảng 12 giờ đêm hoặc 1 giờ sáng, cuối hay gần cuối chặng giữa; có nơi dùng rượu, có nơi không. Sau tiệc, trầu và nước, hai bên có thể hát thêm giọng vặt trước khi chuyển sang lời từ biệt. Những chi tiết này phản ánh nếp giao tiếp trong canh hát được ghi nhận.
Thường bên khách cất câu giã bạn để xin ra về, còn bên chủ đáp bằng ý níu giữ. Ở chặng này, việc đối giọng không bị ràng buộc như trước. Các bài được nguồn nêu gồm Người ơi người đừng về, Tạm biệt từ đây, Chia rẽ đôi nơi, Kẻ Bắc người Nam và Con Nhện giăng mùng. Cuộc tiễn đưa và lời hẹn gặp lại khép lại canh ca.
Theo tài liệu, mùa hội trong vùng có các cuộc gặp nối tiếp từ ngày 4 tháng Giêng đến ngày 28 tháng Hai âm lịch; tháng Tám âm lịch cũng có dịp vào đám, hội đình. Đây là lịch sinh hoạt được nguồn mô tả trong bối cảnh truyền thống. Muốn dự một lễ hội hiện tại, người đọc cần kiểm tra lịch tổ chức riêng của địa phương.
Hát vui là dịp những nhóm đã kết bạn gặp nhau hoặc làm quen với nhóm ở làng khác. Nguồn kể về các nhóm nhiều kinh nghiệm, người hát có bài mới và nhóm trẻ được anh chị đi trước dẫn tới hội. Gặp gỡ giúp người hát luyện sự mạnh dạn, mở rộng quan hệ và học thêm vốn bài.
So với canh hát hay cuộc thi, hát vui có quy ước linh hoạt hơn. Hai bên vẫn hát đôi và đối đáp nam nữ, nhưng chú trọng sự hòa hợp tình ý thay vì bắt buộc đối đủ giọng, lời. Người hát có thể bắt đầu bằng giọng vặt hoặc một bài phù hợp với điều muốn trao gửi, không nhất thiết mở bằng giọng cổ.
Khi chiều hội khép lại, các nhóm có thể vừa tiễn nhau vừa dừng hát giã bạn. Nguồn cũng kể trường hợp nhóm chủ mời bạn về nhà tiếp tục một canh ca. Sinh hoạt này nối không khí hội với sự gắn bó giữa người hát trong đời sống làng.
Không phải hội làng nào cũng có hát thi, cũng không phải nơi đã tổ chức một lần đều mở giải hằng năm. Nguồn mô tả việc tổ chức tùy điều kiện từng năm và cần chọn nhóm giữ giải để các nhóm khác đến phá giải hoặc giật giải. Một số làng yêu thích nghệ thuật này nhưng không có nhóm riêng có thể mời nhóm bên ngoài giữ giải.
Trước cuộc thi, lời mời và thể lệ được niêm yết ở cửa đình. Các nhóm luyện bài khó, bài mới, đồng thời chuẩn bị lời thơ và làn điệu để đối đáp. Nguồn gọi việc sáng tác lời là đặt câu, còn phổ nhạc cho lời thơ là bẻ giọng. Chi tiết thể lệ có thể khác giữa các làng, nên không dùng mô tả này làm quy định chung cho giải hiện hành.
Cuộc hát được nguồn mô tả mở bằng bài chúc theo giọng La rằng, rồi khảo phần lề lối. Bên giữ giải có thể lần lượt đưa ra 5 bài bắt buộc: Hừ La, La rằng, Đương bạn, Cây gạo và Cái hời cái ả. Phần này không tính điểm, nhưng theo lệ trong tài liệu, người không đáp được một bài sẽ không tiếp tục thi.
Sau đó, nhóm giữ giải hát trước 5 bài và nhóm giật giải phải đối đủ giọng, đủ lời. Hai bên đổi lượt để nhóm giật giải hát trước 5 bài, nhóm còn lại đáp. Cách tổ chức được gọi là năm trên năm dưới; bên không đối được một bài có thể mất điểm. Số vòng tùy thời gian hội, trong khi nguồn cho biết nhiều cuộc thi dùng ba lượt như vậy.
Tài liệu tổng hợp một cách tính thường gặp: 21 bài, 42 lượt hát, khoảng 126–168 phút, chưa kể thời gian dừng trao đổi về bài khó hoặc tranh luận nghệ thuật. Nguồn còn ghi trường hợp hội kéo dài 2–3 ngày, có giai đoạn hát đối đáp giao lưu trước phần thi. Những con số là mô tả trong tài liệu, không phải thời lượng cố định của mọi cuộc hát.
Ban cầm chịch được làng lựa chọn từ người am hiểu và có uy tín về ca hát, thường gồm 3–5 bô lão theo nguồn. Người đứng đầu do quan đám, chức vị phụ trách việc làng vào đám, chỉ định. Ban này phân định đúng sai và kết quả trước người dự hội; cuộc thi cũng tạo dịp sáng tác, diễn xướng, thưởng thức và học hỏi.
Khi tới hội, các nhóm có thể chuẩn bị trầu, cau, hương, nến và hoa quả để làm lễ tại đình. Sau nghi thức, người hát cất một đôi bài theo giọng La rằng với ý chúc làng bình an, hưng thịnh. Nguồn gọi hình thức đó là hát lễ thờ và đặt nó trong mối liên hệ giữa nghệ thuật ca hát với cộng đồng tổ chức hội.
Tài liệu mô tả niềm tin dân gian về sự hòa hợp âm dương, trời đất và con người. Trong bối cảnh hạn kéo dài, một số nơi có tục hát cầu đảo, thường do các nhóm nữ thực hiện tại đền trong 2–3 ngày đêm. Nguồn cho biết họ hát lời cầu mưa thuận gió hòa theo giọng La rằng, thay vì bài tình tứ giao duyên.
Những lời kể về sự linh nghiệm là quan niệm tín ngưỡng trong bài nguồn, không phải bằng chứng về khả năng tác động tới thời tiết. Việc trình bày phong tục cần phân biệt rõ niềm tin cộng đồng với kết luận đã được kiểm chứng.
Với hát giải hạn, nguồn kể gia chủ có thể mời 4, 5 hoặc 6 nhóm nam nữ đến sau nghi thức cúng lễ. Cuộc hát ít gò bó hơn, ưu tiên lời ca vui vẻ, gắn bó và kết thúc bằng giã bạn, lời chúc bình yên. Vật phẩm cúng lễ có thể được gửi biếu như lộc thánh. Đây là mô tả tục lệ cũ, không phải lời khuyên dùng nghi lễ để xử lý bệnh tật hoặc khó khăn đời sống.
Những dịp gia đình ăn mừng nhà mới, thành đạt hoặc khao thọ cũng được nguồn gắn với cuộc hát. Các mốc 50, 60, 70, 80 tuổi là ví dụ nêu trong tài liệu. Hát mừng chú trọng không khí vui, đối đáp và giọng vặt; trong đám cưới, người hát tránh bài ai oán hoặc trách móc.
Các làng kết chạ có thể coi nhau như người nhà và mời sang dự hội. Trước cuộc hát tự do, hai nhóm nam nữ có thể hát chúc theo La rằng tại đình, sau đó đối đáp giọng vặt. Nguồn mô tả đây là dịp thể hiện nghệ thuật mà không phân định hơn thua, rồi các nhóm tiếp tục giao lưu trong hội.
Lề lối hát Quan họ thay đổi theo mục đích và hoàn cảnh sinh hoạt: canh ca, hội vui, hát giải hay nghi lễ làng. Việc tìm hiểu vốn giọng, lời thơ và cách đối đáp giúp người đọc thấy rõ chiều sâu nghệ thuật thay vì chỉ nghe một vài bài biểu diễn. Có thể đọc thêm cách truyền dạy và bảo tồn di sản ở Bắc Ninh để hiểu việc trao truyền trong cộng đồng.
Cr: landieuquanhobacninh.blogspot.com

Nhà hàng Thái tại Bắc Giang, Bắc Ninh mang đến một lựa chọn đầy hứng khởi cho những ngày muốn đổi vị bằng lẩu chua cay, đồ nướng nóng hổi ...
Ngôi chùa tại Bắc Ninh thu hút người đến chiêm bái không chỉ bởi không gian thanh tịnh mà còn bởi kiến trúc cổ, tượng Phật, bảo tháp, vườn ...
Chùa Bổ Đà là một trong những cái tên được nhắc đến nhiều khi tìm hiểu về những ngôi chùa nổi tiếng ở Bắc Giang, Bắc Ninh. Nơi đây còn được ...
Hỏi đáp & đánh giá Lề lối hát Quan họ Bắc Ninh: đối đáp, canh ca và hát hội
0 đánh giá và hỏi đáp
Bạn có vấn đề cần tư vấn?
Gửi câu hỏi